Nghẹt thở cuộc chiến chống băng huyết và thuyên tắc mạch, cứu sống sản phụ giữa lằn ranh sinh - tử
Các bác sĩ Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Ninh số 1 vừa thực hiện thành công ca mổ cấp cứu đặc biệt phức tạp - một “cuộc chiến” nghẹt thở chống băng huyết và thuyên tắc mạch để cứu sống sản phụ Nguyễn Thị Phượng (35 tuổi, trú tại xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh) chuyển dạ vỡ ối ở tuần 39 thai kỳ trong khi đang điều trị tắc tĩnh mạch đùi do huyết khối bằng thuốc chống đông máu. Đứng trước lằn ranh sinh - tử mong manh, bằng bản lĩnh chuyên môn, kinh nghiệm xử trí rối loạn đông máu và kỹ thuật cầm máu sản khoa vững vàng, các bác sĩ Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Ninh số 1 đã chạy đua từng phút giây, nỗ lực cứu sống sản phụ từ “tay tử thần” , đón bé trai 3,5 kg chào đời bình an và hạnh phúc hơn cả đó là tử cung của sản phụ được bảo tồn thành công giúp bảo toàn thiên chức làm Mẹ của người phụ nữ.

Thầy thuốc ưu tú - Bác sĩ CKII Lê Công Tước - Nguyên Giám đốc Bệnh viện, Chuyên gia Sản - Phụ khoa tại Bệnh viện và Bác sĩ CKII Hán Mạnh Cường - Trưởng Khoa Sản II thăm hỏi sức khỏe sản phụ Phượng khi điều trị tại Khoa Sản II - Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh số 1
Huyết khối tĩnh mạch sâu trong thai kỳ: 02 nguy cơ đối nghịch tắc mạch và băng huyết đe dọa tính mạng của Mẹ và thai nhi
Mang thai được 14 tuần thì chị Phượng thấy sưng đau, bầm tím toàn bộ chân trái. Đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán bị huyết khối tĩnh mạch sâu và được kê thuốc uống điều trị ngoại trú. Khi thai nhi được 37 tuần, kết quả siêu âm tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy chị Phượng bị huyết khối từ bán phần đến hoàn toàn tĩnh mạch đùi chung và đùi nông bên trái, tình trạng rất nguy hiểm và được tư vấn nên nhập viện để chủ động mổ lấy thai. Qua tìm hiểu các nguồn thông tin được biết Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Ninh số 1 đã từng phẫu thuật thành công trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu nên khi thai nhi được 39 tuần, chị Phượng quyết định nhập viện Sản - Nhi Bắc Ninh số 1 điều trị.
Trao đổi với Thầy thuốc ưu tú - Bác sĩ CKII Lê Công Tước - Nguyên Giám đốc Bệnh viện, Chuyên gia Sản - Phụ khoa tại Bệnh viện, đồng thời là người trực tiếp phẫu thuật và điều trị hậu phẫu cho sản phụ Nguyễn Thị Phượng, được biết: Huyết khối tĩnh mạch sâu trong khi mang thai là căn bệnh cực kỳ nguy hiểm bởi trong khi mang thai cơ thể tăng sản xuất các yếu tố đông máu để cầm máu sau đẻ. Mặt khác, khối tử cung có thai chèn ép các tĩnh mạch chậu cản trở dòng máu trở về dẫn đến tăng nguy cơ hình thành huyết khối gây tắc mạch ở chân và có thể di chuyển huyết khối gây tắc mạch phổi, mạch não và mạch vành gây tử vong. Nguy cơ biến chứng huyết khối, tắc mạch sau đẻ, sau mổ lại tăng lên gấp bội do quá trình mổ, bong rau sẽ giải phóng các yếu tố hoạt hóa đông máu vào trong máu sản phụ gây nên huyết khối và tắc mạch nếu điều trị thuốc chống đông không tốt.
Tuy nhiên có một mâu thuẫn nội tại ở bệnh nhân đang điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu khi đẻ, khi mổ đó là 02 nguy cơ đối nghịch: tắc mạch và băng huyết. Nếu ngăn chặn nguy cơ tắc mạch bằng các thuốc chống đông thì có thể dẫn tới băng huyết sau đẻ, sau mổ đe dọa tính mạng sản phụ. Còn nếu lo sợ băng huyết mà ngừng thuốc chống đông sớm và dùng lại muộn sau mổ thì nguy cơ huyết khối tắc mạch khiến nguy cơ tử vong cực kỳ cao. Để cứu sống được người bệnh, người thầy thuốc phải giải quyết hài hòa 02 mâu thuẫn nội tại này theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và cá thể hóa cho từng bệnh nhân.

Bác sĩ động viên tinh thần sản phụ Phượng để yên tâm điều trị
Với trường hợp của sản phụ Phượng, xét nghiệm đông máu PT có tỷ lệ Prothrombin rất thấp chỉ có 37% (ngưỡng an toàn là 70% - 140%); chỉ số INR (đánh giá thời gian đông máu) 2,5 (giới hạn bình thường 1 - 1,4). Nhận thấy đây là trường hợp đặc biệt nguy hiểm, sản phụ Phượng được chỉ định ngừng thuốc uống Vincerol, thay bằng thuốc tiêm Lovenox liều 4000 UI/1 lần, cách 12 giờ tiêm 01 lần. Theo kế hoạch thì sau khi ngừng thuốc uống Vincerol 03 ngày và sau khi tiêm thuốc chống đông máu 12 giờ các bác sĩ sẽ chủ động mổ lấy thai. Tuy nhiên, chỉ sau khoảng 01 ngày ngừng thuốc uống và sau 01 giờ dùng thuốc tiêm thì sản phụ thấy đau bụng, vỡ ối chuyển dạ. Các bác sĩ lập tức hội chẩn, nhận thấy tình thế rất nguy cấp không thể trì hoãn cuộc mổ nên quyết định mổ cấp cứu lấy thai, phương pháp gây mê nội khí quản và sử dụng kháng sinh dự phòng.
Ca mổ “cân não” chống lại băng huyết và thuyên tắc mạch
Ca mổ cấp cứu lúc này thật sự là một cuộc chiến sinh - tử chống lại băng huyết và thuyên tắc mạch, đòi hỏi bác sĩ phải thật sự bản lĩnh và dày dặn kinh nghiệm bởi bệnh nhân đang trong giai đoạn cộng hưởng của hai loại thuốc chống đông máu, sẽ gây chảy máu không cầm sau đẻ, sau mổ. Nếu sợ băng huyết mà sử dụng các thuốc trung hòa thuốc chống đông như Protamin Sulfate hoặc các chế phẩm máu giàu yếu tố đông máu thì sẽ có nguy cơ huyết khối, tắc mạch ngay sau mổ.
Bằng kinh nghiệm nhiều năm phẫu thuật xử trí các ca rối loạn đông máu, Thầy thuốc ưu tú - Bác sĩ CKII Lê Công Tước - phẫu thuật viên chính và ê-kíp gồm Bác sĩ nội trú Nguyễn Thị Thảo - Khoa Đẻ và Bác sĩ CKI Nguyễn Thị Hương - Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức quyết định không sử dụng các thuốc để trung hòa tác dụng chống đông hoặc các chế phẩm để tăng cường quá trình đông máu.

Thầy thuốc ưu tú - Bác sĩ CKII Lê Công Tước cùng kíp phẫu thuật đón bé chào đời an toàn và cấp cứu sản phụ Phượng thoát khỏi “cửa tử”
Sau khi rạch thành bụng, rạch tử cung đón bé trai nặng 3,5 kg chào đời an toàn, đúng như tiên lượng ban đầu, máu chảy ra từ buồng tử cung và vết mổ không đông lại để cầm máu. Kíp phẫu thuật nhanh chóng thắt cả 04 động mạch chính cấp máu cho tử cung, ngăn chặn được 98% lượng máu đến tử cung, 2% máu còn lại đến tử cung làm nhiệm vụ nuôi tử cung và cầm được do cơ chế co hồi tử cung. Việc cầm máu các chân chỉ khâu ở tử cung và vết rạch thành bụng cũng được tiến hành tỉ mỉ, kỹ lưỡng bằng khâu buộc và dao điện. Tử cung của sản phụ được bảo tồn thành công.
Sau phẫu thuật, sản phụ Phượng được Thầy thuốc ưu tú - Bác sĩ CKII Lê Công Tước và các điều dưỡng Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức theo dõi sát tình trạng ra máu. Sau mổ khoảng 08 giờ và sau mũi tiêm chống đông 13 giờ, sản phụ lại được tiêm thuốc chống đông Levenox liều điều trị.
Sản phụ Phượng được các y bác sĩ quan tâm, chăm sóc tại Khoa Sản II
Bản lĩnh chuyên môn và khuyến cáo từ ca bệnh đặc biệt
Thành công của ca bệnh không chỉ nằm ở việc đón em bé chào đời an toàn mà còn ở khả năng kiểm soát đồng thời 02 nguy cơ đối nghịch ở người mẹ: băng huyết và thuyên tắc mạch. Nhờ kỹ thuật cầm máu tốt trong phẫu thuật, sản phụ Phượng không có “khoảng trống” thuốc chống đông kéo dài (Theo khuyến cáo, thuốc chống đông thường cần được dừng trước mổ 12 - 24 giờ và dùng lại sau mổ 12 - 24 giờ, tạo khoảng trống ít nhất từ 24 - 48 giờ) nên đã loại bỏ được nguy cơ thuyên tắc mạch ở sản phụ.
Đến ngày thứ 09 sau mổ, sức khỏe sản phụ Phượng hồi phục ổn định, được xuất viện và tiếp tục điều trị ngoại trú theo đơn trong 06 tuần tiếp theo.
Từ ca bệnh này, Thầy thuốc ưu tú - Bác sĩ CKII Lê Công Tước cũng khuyến cáo rằng:
* Đối với thai phụ:
- Cần duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, lành mạnh, kiểm soát cân nặng trong thai kỳ; tránh để tăng cân quá mức cho mẹ và thai nhi (khuyến nghị tăng khoảng 9 - 13kg trong suốt thai kỳ).
- Tăng cường vận động phù hợp, đặc biệt với những người phải ngồi nhiều, ít vận động.
- Nhận biết sớm các dấu hiệu nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch sâu: Sưng phù một bên chân (thường là chân trái), kèm đau nóng, tím, các tĩnh mạch dưới da nổi rõ. Khi xuất hiện những triệu chứng này, thai phụ cần đến cơ sở y tế để thăm khám sớm.
* Đối với đội ngũ phẫu thuật viên sản khoa:
- Học tập rèn luyện các kỹ năng về cầm máu và bảo tồn tử cung trong các trường hợp chảy máu sau đẻ, trong mổ. Đây là chìa khóa thành công cho các ca mổ có rối loạn đông máu hoặc huyết khối tĩnh mạch sâu.
Ca mổ đặc biệt này một lần nữa minh chứng cho năng lực xử trí các ca bệnh sản khoa nguy hiểm, phức tạp của đội ngũ y bác sĩ Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Ninh số 1; qua đó khẳng định vai trò là địa chỉ chuyên sâu, tin cậy trong chăm sóc sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em. Trên tất cả, đằng sau mỗi ca bệnh được cứu chữa là tinh thần tận tâm, trách nhiệm và nỗ lực không ngừng của những người thầy thuốc luôn đặt sự an toàn của người bệnh lên trên hết.
Nguồn: Phòng Công tác xã hội
Lượt xem : 153